• Thiết bị thủy sản

    Hotline: 012.5800.5800

  • Thiết bị thủy sản

    hotline: 012.5800.5800

  • Máy cho ăn

    Hotline: 012.5800.5800

  • Thuốc và hóa chất

    Hotline: 012.5800.5800

Nhập khẩu tôm vào Mỹ có xu hướng giảm

Sau khi tăng liên tục trong 14 tháng, NK tôm của Mỹ đã giảm trong tháng 5 và 6 năm nay. Tồn kho cao và XK từ các nguồn cung chính đều gặp khó đã làm giảm nguồn cung tôm vào thị trường Mỹ.

Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp Nước ngoài (FAS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), 6 tháng đầu năm nay, Mỹ NK 303.637 tấn tôm, trị giá 2,8 tỷ USD, tăng 6% về khối lượng và 3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Top 6 nguồn cung tôm lớn nhất cho Mỹ gồm Ấn Độ (chiếm thị phần 33,4%), Indonesia (21,7%), Ecuador (12,2%), Thái Lan (7,2%), Việt Nam (7,1%) và Trung Quốc (6,5%). Trong top 6 nguồn cung lớn nhất, NK từ Ấn Độ và Indonesia tăng tốt nhất trong khi NK từ Thái Lan giảm mạnh nhất.
Mặc dù NK tôm tăng trong 6 tháng đầu năm nhưng tháng 6/2018, NK tôm vào Mỹ đã giảm cả về khối lượng và giá trị. Mỹ NK 49.400 tấn tôm, giảm 8% so với tháng 6/2017 (53.455 tấn). Giá trị NK đạt 434,4 triệu USD, giảm từ 513,6 triệu USD NK trong tháng 6/2017. Tồn kho vẫn cao, giá NK trung bình giảm (giá NK tháng 6/2018 đạt 8,79 USD/kg so với 9,61 USD/kg của tháng 6/2017) do nguồn cung dư đã ảnh hưởng tới NK tôm vào Mỹ trong tháng 6 năm nay. Sau khi tăng liên tục trong 14 tháng, NK tôm của Mỹ đã giảm trong tháng 5 và 6 năm nay. Xu hướng này trái ngược với mọi năm khi tháng 6 là thời điểm NK tôm của Mỹ bắt đầu tăng.
Ấn Độ vẫn là nguồn cung tôm lớn nhất cho Mỹ trong tháng 6/2018, XK sang Mỹ 17.708 tấn, giảm 2% so với 18.014 tấn của tháng 6/2017. Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 6/2016, Mỹ giảm NK tôm từ Ấn Độ. NK tôm vào Mỹ từ Ấn Độ đang chững lại. Sau khi tăng 22% XK tôm sang Mỹ trong tháng 4/2018, XK tôm của Ấn Độ sang Mỹ trong tháng 5 chỉ tăng 4%. Nguồn cung dư và sự bất ổn trong thương mại tôm thế giới đã buộc người nuôi tôm Ấn Độ giảm 30% lượng thả nuôi. Khoảng 50% trại ương giống của Ấn Độ trong tình trạng đóng cửa.
Thái Lan giảm mạnh XK tôm sang Mỹ. Thái Lan XK 3.370 tấn tôm sang Mỹ trong tháng 6 năm nay, giảm 42% so với tháng 6/2017 (5.797 tấn). 2 đối thủ cạnh tranh của Thái Lan ở châu Á (Ấn Độ và Indonesia) chào giá XK thấp hơn của Thái Lan nên nước này khó cạnh tranh trên thị trường Mỹ. Chi phí sản xuất tôm cao hơn cũng ảnh hưởng tới XK tôm của Thái Lan. Việc Chính phủ Thái Lan cấm NK tôm từ Ấn Độ làm tăng chi phí tôm nguyên liệu của Thái Lan và giảm khả năng cạnh tranh của các công ty chế biến Thái Lan và giảm nguồn cung tôm từ Thái Lan sang Mỹ.
NK tôm từ Trung Quốc vào Mỹ đạt 3.495 tấn trong tháng 6/2018, giảm 21% so với tháng 6/2017 (4.429 tấn). XK tôm Trung Quốc sang Mỹ sẽ còn tiếp tục gặp khó khăn do tác động của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.
Các nguồn cung tôm cho Mỹ trong đó có Việt Nam sẽ gặp phải những trở ngại nhất định trong XK tôm sang Mỹ thời gian tới do Mỹ sắp áp dụng Chương trình giám sát thủy sản nhập khẩu. Cuối tháng 4/2018, tôm chính thức được Cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA) đưa vào Chương trình giám sát thủy sản nhập khẩu Mỹ (SIMP). Theo đó, đến ngày 31/12/2018, các nhà NK tôm phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của chương trình SIMP.
Tại Hội thảo “Chương trình Giám sát Thủy sản NK vào Hoa Kỳ (SIMP) cho Tôm và Bào ngư” diễn ra tại Tp Hồ Chí Minh vào ngày 1/8/2018, bà Celeste Leroux, chuyên gia của NOAA cho biết, chương trình SIMP áp dụng với các lô hàng hải sản từ nước ngoài nhập vào thị trường Hoa Kỳ. Theo đó nhà NK trong hồ sơ phải thường trú ở Hoa Kỳ và có giấy phép thương mại thủy sản quốc tế hiện hành. Ngoài ra, có hai loại thông tin truy xuất nguồn gốc bắt buộc phải có. Đó là thông tin về thu hoạch và cập bờ phải được báo cáo bằng điện tử tại thời điểm nhập khẩu thông qua Hệ thống dữ liệu thương mại quốc tế (ITDS) và hồ sơ chuỗi hành trình. Hồ sơ chuỗi hành trình là tài liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm từ lúc thu hoạch đến điểm nhập cảng Hoa Kỳ, phải được nhà NK lưu giữ trong 2 năm và có thể được yêu cầu xuất trình khi kiểm tra.
Bà Celeste Leroux cho biết thêm, quy tắc thiết lập SIMP chỉ áp dụng cho hải sản từ nước ngoài vào Hoa Kỳ. NOAA có thể hỗ trợ cho DN bằng cách gửi thông tin để NOAA xem xét giúp và sẽ cho DN biết nếu có bất kỳ thông tin nào bị thiếu trong chuỗi cung ứng mà phía nhà nhập khẩu Hoa Kỳ yêu cầu truy xuất. Đại diện NOAA cho rằng, do ở Việt Nam có nhiều trường hợp sản xuất nhỏ lẻ nên có thể làm việc cụ thể với NOAA. Tuy nhiên, các DN ít nhất phải có bằng chứng, chứng minh được rằng nông dân đó đã được cấp phép sản xuất theo quy hoạch.
Từ phía DN cũng cho rằng, các nhà xuất khẩu Việt Nam có uy tín đều đã thực hiện chương trình truy xuất nguồn gốc trong một thời gian dài, vì vậy các DN đã có nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên, một số quy định của SIMP khá chi tiết, thủ tục còn rườm rà buộc DN phải chuẩn bị thêm một đội ngũ để chuẩn bị hồ sơ, tốn thêm chi phí nhân công. Bên cạnh đó, với thời hạn chỉ còn vài tháng để chuẩn bị khá gấp, hàng hóa xuất đi dễ bị ách tắc trong giai đoạn đầu.

VASEP: Cá tra Việt bị 'bôi xấu' ở châu Âu

Thu hoạch cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Phạm Vũ

Gần đây nhiều tờ báo Rumani khuyến cáo người dân không nên ăn cá tra Việt nam, một số khác lại khuyến nghị tẩy chay món này.

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho hay, gần đây, nhiều báo mạng tại Rumani đã đăng tải thông tin không chính xác về sản phẩm cá tra Việt Nam, gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường này.
Cụ thể, một tờ báo còn khuyến nghị người dân không ăn, không gọi các món có liên quan đến cá tra Việt Nam tại các nhà hàng, thậm chí còn cáo buộc cá tra được sử dụng dưới nhiều tên gọi khác nhau để tránh bị người tiêu dùng Rumani phát hiện. Một số trang mạng khác khuyến nghị người dân nước này tẩy chay cá tra và các nhà hàng có thực đơn món cá này.
Theo VASEP, việc nhiều tờ báo Rumani đăng thông tin nhằm bôi xấu hình ảnh cá tra Việt Nam có thể gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu sản phẩm chiến lược này của Việt Nam sang thị trường Rumani. Đặc biệt, trong số các trang báo đăng tải, có nhiều tờ báo lớn như: Adevarul.roRealitatea.ro với lượng độc giả truy cập lớn tại Rumani khiến thông tin sai lệch này lan truyền nhanh hơn.
Thu hoạch cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Phạm Vũ
Mặc dù Rumani chỉ là thị trường xuất khẩu cá tra nhỏ của doanh nghiệp Việt Nam tại phía Đông Nam châu Âu với giá trị xuất khẩu trong 3 năm trở lại đây dưới 5 triệu USD một năm. Tuy nhiên, VASEP lo ngại, những thông tin sai lệch này có thể bị phát tán và lan truyền không kiểm soát thông qua mạng internet. Hiện VASEP tiếp tục theo dõi và tìm hiểu thông tin về sự việc thông qua Tham tán thương mại Việt Nam tại Rumani để có biện pháp ngăn chặn. 
Vào năm ngoái, Đài truyền hình Cuatro (Kênh 4) của Tây Ban Nha cũng phát sóng một phóng sự chủ đề nuôi trồng, buôn bán cá tra và tội phạm qua mạng trong Chương trình ¨En el punto de mira¨. Phóng sự đã đưa những hình ảnh theo mục đích và kịch bản có sẵn tại một số cơ sở nuôi cá tra, có đối chiếu so sánh với một cơ sở nuôi tại Tây Ban Nha để thấy ở Tây Ban Nha chất lượng tốt hơn. Ngoài ra họ cũng điều tra về tình hình kiểm soát phân phối và tiêu thụ cá tra tại Tây Ban Nha, trong đó có việc một số nơi bán cá tra đội lốt cá khác để bán giá cao hơn.
Năm 2011, một kênh truyền hình tại Đức đăng tải một bộ phim tài liệu về cá tra, mô tả loài cá này là rẻ tiền, chất lượng thấp, được nuôi ở vùng nước ô nhiễm. Doanh số vào thị trường này sau đó đã sụt giảm tới 25%.
Năm 2012, nhập khẩu cá tra của châu Âu giảm 20% do Mazereeuw nhận định các vấn đề về kháng sinh, chất lượng nước, thức ăn không bền vững và chất thải từ các ao nuôi.
Thi Hà

Một số nghiên cứu về sự ảnh hưởng của oxy hòa tan đến động vật thủy sản


Có khá nhiều những nghiên cứu vầ sự ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan khác nhau lên các đối tượng thủy sản. Những nghiên cứu này đã cung cấp những dẫn liệu khoa học và có tính định hướng cho những nghiên cứu sau này trên các đối tượng nuôi khác. Tình trạng sinh lý của cá có liên quan đến sự tiêu hao oxy của các loài cá. Khi cá bị sốc hay stress cũng ảnh hưởng đến sự tiêu hao O2 và bài tiết CO2. Khi cá hồi khi nhảy bật lên (burst swimming) thì sự tiêu hao oxy tăng lên 71%, sự bài tiết CO2 tăng lên 104% và tần số hô hấp tăng lên 17%. Khoảng 80 phút sau đó thì các thông số mới trở lại bình thường (Steffensen, 1987). Tiêu hao oxy của cá bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ. Khi nhiệt độ càng cao thì tiêu hao oxy của cá cũng gia tăng. Tiêu hao oxy của cá Oreochromis alcalicus grahami 10 g ở 37oC là 0,415 ml O2/g/giờ. Khi nhiệt độ gia tăng từ 37-42oC thì tiêu hao oxy của cá tăng từ 0,739-0,970 ml O2/g/giờ (Franklin et al., 1995). Yamochi and Sano (1992), khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhiệt độ và hàm lượng oxy hòa tan lên tỉ lệ sống của tôm Southern Rough cho thấy sự tiêu hao oxy trong nước mặn là 6,5x10-3 mlO2/cm2/giờ ở 20oC và 1,6x10-2 mlO2/cm2/giờ ở 25oC, của bùn đáy là 3,4x10-3 mlO2/cm2/giờ ở 20oC và 3,6x10-3 mlO2/cm2/giờ ở 25oC. Tiêu hao oxy trung bình của tôm Southern Rough là 8,7x10-2 mlO2/g/giờ ở 20oC và 1,2x10-1 mlO2/g/giờ ở 25oC điều này cho thấy sự tiêu hao oxy của tôm gia tăng khi nhiệt độ tăng lên. Tỉ lệ chết của tôm gia tăng khoảng 50% khi hàm lượng oxy hòa tan giảm xuống còn 0,9-1 mlO2/L. Tôm trong điều kiện nồng độ oxy hòa tan thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình sinh lý bình thường của cơ thể. Nghiên cứu trên tôm Penaeus setiferus giai đoạn PL27 trong điều kiện hàm lượng oxy hòa tan 2, 3, 4 và 5,8 mg/L trong 50 ngày. Kết quả cho thấy có sự ảnh hưởng đến sự tiêu thụ năng lượng, tần số hô hấp và sự tăng trưởng. Trong suốt chu kỳ thí nghiệm thì tỉ lệ sống của tôm không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng oxy hòa tan khi vẫn duy trì trong khoảng 77-85%. Sự tăng trưởng của tôm cao nhất ở hai nghiệm thức 4 và 5,8 mg/L và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại. Tần số hô hấp bị ảnh hưởng bởi hàm lượng oxy hòa tan khác nhau, cao nhất ở nghiệm thức 2 ng/L và thấp nhất ở các nghiệm thức còn lại. Sự tiêu thụ năng lượng gia tăng khi tôm tiếp xúc với hàm lượng oxy hòa tan ở mức dưới 4 mg/L (Rosas et al., 1998). Hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp cũng ảnh hưởng đến các yếu tố môi trường và điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm cá. Wajsbrot et al. (1990) khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan khác nhau đối với độc tính của ammonia lên tôm Penaeus semisulcatus (0,35-2,4 g), kết quả cho thấy, giá trị LC50 96 giờ của ammonia là 23,7 mg TAN/L. Không có sự ảnh hưởng bởi kích cỡ tôm với độc tính của ammonia. Độc tính của ammonia tăng lên khi hàm lượng oxy hòa tan dưới 55% bảo hòa (3,7 ppm). Ở mức 27% bảo hòa, độc tính của ammonia tăng lên gấp đôi. Trước và trong qua trình lột xác, tôm nhạy cảm với hàm lượng oxy hòa tan thấp và nồng độ ammonia cao. Hàm lượng oxy hòa tan khác nhau cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, sinh trưởng và sinh sản của một số loài phiêu sinh động vật. Các loài Daphnia magna, Daphnia pulex, Hyalella azteca, và Gammarus lacustris khi tiếp xúc với điều kiện oxy hòa tan thấp trong phòng thí nghiệm, kết quả cho thấy có hai giá trị LC50 48 giờ đối với loài Daphnia magna là 0,6 và 0,7 mg/L (chết 50%), khi hàm lượng oxy hòa tan từ 0,6-0,9 mg/L đã gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của Daphnia magna. Đối với loài Daphnia pulex, giá trị LC50 48 giờ là 0,5 mg/L, LC50 96 giờ có hai giá trị là 0,4 và 0,7 mg/L. Hàm lượng oxy hòa tan từ 1,6-2,1 mg/L đã gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Tương tự đối với Hyalella azteca giá trị LC50 96 giờ và 30 ngày < 0,3 mg/L và với loài Gammarus lacustris giá trị LC50 7 ngày là < 0,2 mg/L (Nebeker et al., 1992). Sự ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan khác nhau, sự giảm nhiệt độ liên quan đến tình trạng thiếu oxy và giai đoạn lột xác trên tôm Litopenaeus stylirostris đã được Mugnier and VIDEOS (/VIDEOS.ASPX) UVVIETNAM nal Clip Giới Thiệu Công Ty Xem thêm (/Videos.aspx) Email: Đăng ký ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN TƯ VẤN KỸ THUẬT (/QUESTION.ASPX) ĐẶT CÂU HỎI (/QUESTIONB.ỘASPPHXẬ)N CÁ BỘ PHẬN TÔM BỘ PHẬN THÚ Y THƯ VIỆN HÌNH ẢNH (/IMAGES.ASPX) (http://www.facebook.com/UVVietnam) (https://www.youtube.com/channel/UCsLr6MEtBXidsraBUdN-4ew) (https://plus.google.com/110647677849858678159/about) (/Default.aspx) (/DEFAULT.ASPX) GIỚI THIỆU + SẢN PHẨM (/PRODUCTLANDING.ASPX) THÔNG TIN KỸ THUẬT + QUY TRÌNH + Soyez (2005) nghiên cứu. Ở thí nghiệm thứ nhất, tôm cho tiếp xúc với hàm lượng oxy hòa tan 5-1 mg/L. Khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu được đo khi tôm ở giai đoạn lột xác C sau 6, 24, và 48 giờ tiếp xúc. Tỉ lệ chết của tôm không được ghi nhận, nhưng có sự ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan lên khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu của tôm khi hàm lượng oxy hòa tan dưới 3 mg/L. Khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu tăng sau 48 giờ tiếp xúc so với 6 và 24 giờ tiếp xúc. Ở thí nghiệm thứ hai, nhiệt độ giảm từ 28 xuống 22oC trong vòng 24 giờ khi hàm lượng oxy hòa tan là 0,5 ± 0,1 mg/L. Tỉ lệ chết và khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu có liên quan đến giai đoạn lột xác của tôm. Một nửa số tôm chết sau khi tiếp xúc 100 phút với 0,5 mg/L oxy hòa tan ở 28oC và 153 phút với 0,4 mg/L oxy hòa tan ở nhiệt độ 22oC. Tỉ lệ chết của tôm cao hơn có ý nghĩa khi tôm ở giai đoạn lột xác D2 và B so với giai đoạn C và D0. Tôm đối chứng ở giai đoạn D2 điều hòa áp suất thẩm thấu thấp hơn tôm ở giai đoạn C và D0 ở cả hai mức nhiệt độ 28 và 22oC. Nhiệt độ giảm không ảnh hưởng đến điều hòa áp suất thẩm thấu cao. Tình trạng giảm oxy hòa tan làm giảm điều hòa áp suất thẩm thấu ở tất cả các giai đoạn lột xác của tôm, trong khi nhiệt độ ảnh hưởng lớn nhất là giai đoạn C ở 27oC (giảm 68%) so với 22oC (49%) và D2 ở 27oC (giảm 43%) so với 22oC (58%). Như vậy, sự kết hợp giữa nhiệt độ và hàm lượng oxy hòa tan trong nước đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu và trao đổi chất của tôm. Nhiều loài giáp xác có thể thích nghi với hàm lượng oxy hòa tan khác nhau trong môi trường theo ngày đêm hay theo mùa. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp thường làm cho hàm lượng CO2 cao. Điều này làm ảnh hưởng đến hô hấp, các quá trình sinh lý, hoạt động và khả năng dề kháng bệnh của giáp xác. Hàm lượng oxy hòa tan thấp và CO2 cao đã làm tổn hại đến hàng rào miễn dịch của các loài giáp xác. Trong điều kiện này, hoạt động của enzyme phenoloxidase (enzyme có liên quan đến sự bao bọc và melamine hóa các mầm bệnh trên giáp xác) bị giảm sút, cùng với số lượng tế bào máu giảm tạo điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh tấn công (Burnett and Burnett, 1998). Sự thay đổi hàm lượng oxy hòa tan trong nước sẽ làm thay đổi tình trạng sinh lý trong cơ thể của giáp xác. Theo Cheng et al. (2003), khi nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan lên các chỉ tiêu sinh lý máu của tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii (de Man) cho thấy áp suất thẩm thấu và nồng độ các ion Na+, K+ và Cl- giảm có ý nghĩa (P < 0,05) sau 24 giờ đưa tôm vào môi trường có nồng độ oxy thấp (2,75 và 1,75 mg/L), và chỉ số này được duy trì cho đến khi kết thúc thí nghiệm. Hàm lượng oxyhemocyanin và protein tăng cao từ 1,8-1,89 mmol/L và 188-190 mg/L theo thứ tự. Điều này cho thấy khi môi trường có nồng độ oxy hòa tan giảm, tôm đã tăng cường lượng hemocyanin kết hợp với oxy ở mức cao nhằm cung cấp đủ oxy cho quá trình hô hấp. Khi đưa tôm vào môi trường có nồng độ oxy thấp cũng dẫn đến hiện tượng gia tăng pH máu một cách có ý nghĩa, pH tăng từ 7,54 lên 7,85 sau 12 giờ ở nồng độ oxy hòa tan 1,75 mg/L. Sự giảm hàm lượng oxy hòa tan cũng dẫn đến hiện tượng gia tăng áp suất của CO2 trong máu tôm, điều này giải thích tại sao tôm lờ đờ, bỏ ăn khi nồng độ oxy hòa tan trong môi trường nuôi giảm. Ở nồng độ oxy hòa tan trong nước là 1,75 mg/L, áp suất CO2 trong máu tăng từ 7,6 lên 11,54 mm Hg sau 12 giờ. Chỉ tiêu sinh lý máu liên quan đến quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu và duy trì môi trường trong thích hợp cho các tế bào máu hoạt động đó là ion Cl- và HCO3-. Nồng độ HCO3- trong máu tôm tăng cao nhất sau 12 giờ (14,6 mg/L) ở nồng độ oxy hòa tan 2,75 mg/L, và 18,4 mg/L ở nồng độ oxy hòa tan là 1,75 mg/L. Nồng độ này có thể trở lại mức bình thường sau 24 giờ nếu hàm lượng oxy hòa tan trong nước ở mức cao hơn 2,75 mg/L. Như vậy trong điều kiện thiếu oxy, các chỉ số như hàm lượng hemocyanin, protein, pH và áp suất của khí CO2 trong máu gia tăng có ý nghĩa, trong khi áp suất thẩm thấu và các thành phần ion trong máu giảm một cách đáng kể. Hàm lượng oxy hòa tan cao trong nước làm tăng năng suất của tôm nuôi trong ao đất. McGraw et al. (2001), làm thí nghiệm với 9 ao nuôi tôm Litopenaeus vannamei và L. stylirostris có diện tích 0,11 ha, mật độ 33 con/m2. Ao được trang bị máy đo nhiệt độ và oxy tự động mỗi 30 phút, máy thổi khí (0,75 kW) tự động hoạt động điều chỉnh hàm lượng oxy hòa tan ở mức 65% (4,6 mg/L ở 29oC và độ mặn 15 ppt), 40% (2,8 mg/L ở 29oC và độ mặn 15 ppt) và 15% (1,1 mg/L ở 29oC và độ mặn 15 ppt) bảo hòa. Kết quả cho thấy năng suất trung bình, tỉ lệ sống của cả hai loài tôm, và lợi nhuận gia tăng có ý nghĩa (P < 0,05) khi nồng độ oxy hòa tan tăng từ 15-65% bảo hòa. Năng suất cao có mối tương quan với tỉ lệ sống cao. Trọng lượng trung bình của tôm thu hoạch khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) ở các hàm lượng oxy hòa tan khác nhau. Sự ảnh hưởng của nồng độ oxy hòa tan và mật độ thả lên tăng trưởng, tỉ lệ sống, lột xác, tiêu hao oxy, hiệu quả chuyển đổi thức ăn (FCE), và các yếu tố miễn dịch không đặc hiệu như phenoloxidase (PO), superoxide dismutase (SOD), perosidase (POD), antibacterial activity (Ua), lysozyme (UI) được nghiên cứu kỹ trên tôm Trung Quốc Fenneropenaeus chinensis. Kết quả cho thấy sự tăng trưởng của tôm (chiều dài và trọng lượng), tỉ lệ sống, lột xác, FCE thì không ảnh hưởng bởi hàm lượng oxy hòa tan (khác biệt không có ý nghĩa trong các nghiệm thức). Hoạt động của SOD, POD, Ua, UI và hemolysin thì bị ảnh hưởng bởi nồng độ oxy hòa tan. Tiêu hao oxy của tôm cao khi nồng độ oxy hòa tan thấp (LDO) so với nồng độ oxy trung bình (MDO) và cao (HDO) khác biệt có ý nghĩa. Sự tăng trưởng (chiều dài và trọng lượng), tỉ lệ sống, FCE và hoạt động của PO giảm, trong khi POD tăng khi mật độ thả tăng. Kết quả chỉ ra rằng, nồng độ oxy hòa tan là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của hệ miễm dịch không đặc hiệu của tôm (SOD, POD, Ua, UI và hemolysin) (Li et al., 2006). Những nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nồng độ oxy hòa tan khác nhau lên những đặc điểm f LIKE G +1 COMMENT (http://uvvietnam.com.vn/SpecNewsDetail.aspx? newsId=2474#comment) EMAIL sinh lý của tôm càng xanh đã cung cấp thêm nhiều dẫn liệu khoa học có giá trị về đối tượng này. Cheng et al. (2002), nghiên cứu trên tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii (14-19 g) cho cảm nhiễm vi khuẩn Enterococcus (3x105 cfu) trong 24 giờ, sau đó cho tôm tiếp xúc với nồng độ oxy hòa tan ở 7,75, 4,75, 2,75 và 1,75 mg/L. Tỉ lệ chết của tôm xuất hiện sau 6 giờ tiếp xúc với hàm lượng oxy hòa tan 1,75 mg/L và sau 12 giờ đối với hàm lượng oxy hòa tan 2,75 mg/L. Tỉ lệ chết dồn tích của tôm ở nồng độ oxy hòa tan 1,75 mg/L cao hơn có ý nghĩa so với 4,75 mg/L và 2,75 mg/L, và tương tự tỉ lệ chết dồn tích của tôm cao ở nồng độ oxy 4,75 mg/L và 2,75 mg/L so với 7,75 mg/L sau 96 giờ. Tôm càng xanh (20-30 g) cho tiếp xúc với nước có nồng độ oxy 7,75, 4,75, 2,75 và 1,75 mg/L trong thời gian từ 0-120 giờ để xác định tổng số tế bào máu (THC), hoạt động của enzyme phenoloxidase, sự hô hấp của tôm, tỉ lệ % thực bào. Kết quả cho thấy, không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa số lượng tế bào dạng bán hạt (semigranular cell) và tế bào dạng hạt (granular cell) ở cả 4 nghiệm thức. Tôm khi tiếp xúc 120 giờ ở nồng độ oxy 2,75 mg/L giảm tế bào hyaline (hyaline cell) và THC lần lượt là 39% và 36%. Hoạt động của phenoloxidase và hô hấp của tôm giảm lần lượt 33% và 11% khi tiếp xúc với hàm lượng oxy hòa tan 2,75 mg/L sau 24 giờ. Tỉ lệ % sự thực bào và tiêu diệt Enterococcus giảm lần lượt là 44% và 54% sau 12 giờ tiếp xúc với nồng độ oxy hòa tan 2,75 mg/L. Kết quả cho thấy khi nồng độ oxy hòa tan thấp (2,75 và 4,75 mg/L) là nguyên nhân làm suy yếu hệ miễn dịch của tôm càng xanh, và làm tăng tính nhạy cảm về sự lây nhiễm Enterococcus. Tian et al. (2004), nghiên cứu sự ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ lên tiêu hao oxy của tôm Trung Quốc (Fenneropenaeus chinensis Osbeck), kết quả cho thấy khi nhiệt độ tăng tôm đáp ứng bằng cách tiêu hao oxy tăng để tăng cường trao đổi chất đền bù (metabolic compensation) và phản ứng ngược lại khi nhiệt độ giảm. Khi nhiệt độ tăng đột ngột lên 12oC, tiêu hao oxy của tôm tăng lên vượt xa mức tiêu hao oxy khi tôm đã thích nghi ở nhiệt độ 19oC và kết quả ngược lại khi nhiệt độ giảm đột ngột 12oC so với tôm thích nghi ở 19oC. Sự gia tăng tỉ lệ trao đổi chất của tôm có thể làm tăng tỉ lệ tăng trưởng của tôm khi đã thích nghi ở nhiệt độ cao. Tôm trắng (Penaeus setiferus) là loài có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường có nồng độ muối và oxy hòa tan thấp. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với điều kiện trên kéo dài cũng có nhiều ảnh hưởng đến tôm. Nghiên cứu của Rosas et al. (1999), khi cho tôm tiếp xúc với hàm lượng oxy hòa tan 2, 3, 4, và 5,8 mg/L và độ mặn 15 và 35‰ trong 60 ngày. Kết quả cho thấy, không có sự ảnh hưởng của nồng độ muối hay điều kiện dinh dưỡng lên tiêu hao oxy của tôm. Sự bài tiết ammonia ở 15‰ cao hơn 35‰. Tôm khi không cho ăn thì sự bài tiết ammonia tỉ lệ thuận với sự giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước, trong khi đó tôm cho ăn sẽ xảy ra hiện tượng điều hòa ammonia khi hàm lượng oxy giữa 5,8 và 4 mg/L. Ở 35‰, sự bài tiết ammonia gia tăng đối với tôm cho ăn khi tiếp xúc với nồng độ oxy 2 và 3 mg/L. Ở nồng độ muối thấp, tôm sử dụng protein để tạo năng lượng cho trao đổi chất cơ bản, trong khi ở 35‰ tôm thay đổi trao đổi chất cơ bản từ lipids-proteins (5,8 và 4 mg/L oxy hòa tan) đến proteins (3 và 2 mg/L oxy hòa tan). Kết quả chỉ ra rằng, khi chiu đựng sự thay đổi nồng độ muối và oxy hòa tan thì tôm có thể thay đổi nguồn năng lượng dùng cho trao đổi chất. Một nghiên cứu về tỉ lệ sống, tăng trưởng và thành phần cơ thể (body composition) của tôm giống Farfantepenaeus californiensis (Holmes) được thực hiện ở 2 nồng độ oxy hòa tan trung bình là 5,8 và 2,6 mg/L ở 3 mức nhiệt độ 19, 23 và 27oC trong 50 ngày. Kết quả cho thấy, tỉ lệ sống của tôm là 68-85% ở hàm lượng oxy hòa tan là 2,6 mg/L và 77-82% ở nồng độ oxy hòa tan là 5,8 mg/L. Sự tăng trưởng của tôm ở nồng độ oxy hòa tan thấp thì chậm hơn so với ở nồng độ oxy hòa tan cao. Tỉ lệ tăng trưởng là 2, 12 và 24 mg/ngày tương ứng với mức nhiệt độ từ thấp đến cao ở nồng độ oxy 2,6 mg/L, và tỉ lệ tăng trưởng là 4, 17 và 26 mg/ngày với mức nhiệt độ từ thấp đến cao ở nồng độ oxy 5,8 mg/L. Lipid trong cơ thể là 1,2% wt/wt ở nhiệt độ cao và 2,1 wt/wt ở mức nhiệt độ thấp hơn, trong khi protein là 15,1% wt/wt ở nhiệt độ cao và 12,5% wt/wt ở nhiệt độ thấp hơn. Kết quả cho thấy, khi nồng độ oxy hòa tan thấp và nhiệt độ thấp đã làm giảm sự tăng trưởng của tôm ở giai đoạn giống (Ocampo et al., 2001). Triệu Thanh Tuấn 

Phòng trị một số bệnh trên Êch nuôi công nghiệp

1. Phòng bệnh

- Vệ sinh và tẩy trùng trước khi nuôi bằng vôi.- Ðảm bảo nguồn nước sạch và giữ được vệ sinh khu nuôi ếch; nước ao nuôi không bị chua, thối đục, không có hoá chất độc.- Kiểm tra ếch giống khi mua về, có thể tắm nước muối ăn 3%; nếu con nào bị chết phải loại bỏ ra ngay.- Ðảm bảo số và chất lượng thức ăn trong từng giai đoạn phát triển của nòng nọc và ếch.- Không khuấy động làm ếch giật mình căng thẳng. Cho ăn thức ăn tươi, sạch. Có bóng mát che nắng, chống nóng.- Phòng trừ địch hại như: Chim, rắn, chuột...- Thường xuyên vệ sinh, tẩy trùng dụng cụ cho ăn, sàn ăn.- Không để xảy ra dịch bệnh. Hiện tượng ăn nhau:Nguyên nhân: Nuôi mật độ cao. Thức ăn không đủ. Kích cỡ nuôi không đồng đều.Phòng chống: Mật độ không quá cao. Thức ăn phải đủ chất (đạm phải đúng) và phân bố đều và nhiều lần trong ngày. Thường xuyên lọc và phân cỡ bể nuôi khi ếch nhỏ dưới 50g. 2. Trị một số bệnh thường gặpNguyên nhân gây bệnh cho ếch thường là do ếch ốm yếu, môi trường nuôi nhiễm bẩn, ếch rất dễ bị bệnh ngoài da, sau đó nhiễm trùng dẫn đến ếch bị trướng bụng, da tái đi, không ăn và chết. - Bệnh trướng hơi (sình bụng)Nguyên nhân: Do ếch ăn thức ăn ôi thiu hay do cho ăn quá nhiều ếch không tiêu hóa được., nguồn nước nuôi dơ do ít thay nguồn nước.Triệu chứng bệnh: Bụng ếch trương phồng lên, ếch nằm yên một chổ. Một số con có hậu môn lòi ra, ruột bị sưng lên. Trong ruột có dịch lỏng có lẫn một ít thức ăn.Trị bệnh: Ngưng cho ăn 1 - 2 ngày. Làm vệ sinh thật kỹ môi trường nuôi. Trộn vào thức ăn Sulphadiazine và trimethroprim (4 - 5g/kg thức ăn). Sử dụng liên tục 5 ngày.Phòng bệnh: Định kỳ trộn các men (enzymes) tiêu hóa vào thức ăn của ếch. (2 - 3gr men Lactobacillus trong 1 kg thức ăn) hay Sunfat đồng (CuSO4 ) 0,5 - 0,7g/m3 nước phun toàn ao hoặc nước muối ăn 3% trong 10 phút. Thay nước thường xuyên và giữ nước nuôi sạch. - Bệnh đường ruột (bệnh kiết lỵ)Dấu hiệu thường thấy là ếch bài tiết ra phân trắng và phân sống. Khi bị bệnh hậu môn đỏ, bóp hậu môn thấy máu chảy ra.Dùng một viên Ganidan/1.000 - 3.000 con/ngày ( hoặc 1 viên/1kg thức ăn), trộn vào thức ăn liên tục trong 3-4 ngày. Khi nòng nọc, ếch giống và ếch thịt bị bệnh phải giảm lượng thức ăn xuống còn 50% lượng thức ăn hàng ngày. - Bệnh lở loét đỏ chân (đốm đỏ đùi)Nguyên nhân: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila phát triển khi môi trường nuôi dơ và khi ếch bị shock.Triệu chứng bệnh: Ếch giảm ăn, di chuyển chậm, có những nốt đỏ trên thân, chân bị sưng và dấu hiệu rõ nhất là gốc đùi có tụ huyết. Giải phẩu nội tạng, thấy xuất huyết trong ổ bụng.Trị bệnh: khi bệnh mới phát sẽ có tác dụng tốt. Dùng kháng sinh 5 - 7 ngày. Norfloxaxine 5g/kg thức ăn, hoặc Oxytetracycline 3 - 5g/kg thức ăn. Ngâm ếch trong dung dịch Iodine 5 - 10 ml/1m3 nước hay dùng thuốc Sunfat đồng phun xuống với liều lượng 1,5g/m3.Phòng bệnh: Giữ nước sạch và thường xuyên thay nước. Khi phát hiện ếch bị bệnh phải tách những con bệnh ra khỏi đàn để tránh lây lan. - Bệnh trùng bánh xeKý sinh ở da nòng nọc, khi trời nóng, gió đông thường xảy ra bệnh này. Khi có trùng ký sinh, da ếch tiết ra nhiều dịch nhờn, tạo nên những điểm màu trắng bạc.Dùng sunfat đồng liều lượng 0,5 - 0,7g/m3 nước phun toàn ao, hoặc tắm cho ếch với liều lượng 1-2g/m3 trong vòng 10 - 15 phút hay tắm trong nước muối 2 - 3% trong vòng 10 - 15 phút. - Bệnh mù mắt, cổ quẹoTriệu chứng: Mắt bị viêm sưng. Mắt đục và mù cả hai mắt. Biến dạng cột sống và cổ quẹo. ếch thường xuyên quay cuồng và chết. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng có tài liệu cho là do vi khuẩn Pseudomonas sp.Trị bệnh: Loại bỏ những con có triệu chứng bệnh. Khử trùng bể bằng Iodine liều lượng 5 - 10ml m3 nước bể. - Bệnh do nấmTác nhân gây bệnh: Do nấm Achya sp gây ra.Triệu chứng: Toàn thân ếch , cũng có khi chỉ ở những chỗ khe có những búi nấm trắng, mắt thường có thể nhìn thấy.Phòng bệnh: Trong quá trình nuôi luôn kiểm soát môi trường thật tốt, định kỳ khử trùng bằng vôi bột.Trị bệnh: Dùng formalin với nồng độ 20 - 25 ml/m 3 tắm cho ếch. - Bệnh giun, sánNguyên nhân: Ếch thường bị bệnh sán lá, sán sơ mít và giun ký sinh.Hiện tượng: Ếch chậm lớn.Trị bệnh: Trộn các loại thuốc tẩy giun sán lẫn với thức ăn hoặc có thể dùng peperracin với tỷ lệ 0,1% so với thức ăn. Phải tẩy vài lần mới hết được giun sán./.
x


1. Phòng bệnh
- Vệ sinh và tẩy trùng trước khi nuôi bằng vôi.
- Ðảm bảo nguồn nước sạch và giữ được vệ sinh khu nuôi ếch; nước ao nuôi không bị chua, thối đục, không có hoá chất độc.
- Kiểm tra ếch giống khi mua về, có thể tắm nước muối ăn 3%; nếu con nào bị chết phải loại bỏ ra ngay.
- Ðảm bảo số và chất lượng thức ăn trong từng giai đoạn phát triển của nòng nọc và ếch.
- Không khuấy động làm ếch giật mình căng thẳng. Cho ăn thức ăn tươi, sạch. Có bóng mát che nắng, chống nóng.
- Phòng trừ địch hại như: Chim, rắn, chuột...
- Thường xuyên vệ sinh, tẩy trùng dụng cụ cho ăn, sàn ăn.
- Không để xảy ra dịch bệnh.

Hiện tượng ăn nhau:
Nguyên nhân: Nuôi mật độ cao. Thức ăn không đủ. Kích cỡ nuôi không đồng đều.
Phòng chống: Mật độ không quá cao. Thức ăn phải đủ chất (đạm phải đúng) và phân bố đều và nhiều lần trong ngày. Thường xuyên lọc và phân cỡ bể nuôi khi ếch nhỏ dưới 50g.

2. Trị một số bệnh thường gặp
Nguyên nhân gây bệnh cho ếch thường là do ếch ốm yếu, môi trường nuôi nhiễm bẩn, ếch rất dễ bị bệnh ngoài da, sau đó nhiễm trùng dẫn đến ếch bị trướng bụng, da tái đi, không ăn và chết.

- Bệnh trướng hơi (sình bụng)
Nguyên nhân: Do ếch ăn thức ăn ôi thiu hay do cho ăn quá nhiều ếch không tiêu hóa được., nguồn nước nuôi dơ do ít thay nguồn nước.
Triệu chứng bệnh: Bụng ếch trương phồng lên, ếch nằm yên một chổ. Một số con có hậu môn lòi ra, ruột bị sưng lên. Trong ruột có dịch lỏng có lẫn một ít thức ăn.
Trị bệnh: Ngưng cho ăn 1 - 2 ngày. Làm vệ sinh thật kỹ môi trường nuôi. Trộn vào thức ăn Sulphadiazine và trimethroprim (4 - 5g/kg thức ăn). Sử dụng liên tục 5 ngày.
Phòng bệnh: Định kỳ trộn các men (enzymes) tiêu hóa vào thức ăn của ếch. (2 - 3gr men Lactobacillus trong 1 kg thức ăn) hay Sunfat đồng (CuSO4 ) 0,5 - 0,7g/m3 nước phun toàn ao hoặc nước muối ăn 3% trong 10 phút. Thay nước thường xuyên và giữ nước nuôi sạch.

- Bệnh đường ruột (bệnh kiết lỵ)
Dấu hiệu thường thấy là ếch bài tiết ra phân trắng và phân sống. Khi bị bệnh hậu môn đỏ, bóp hậu môn thấy máu chảy ra.
Dùng một viên Ganidan/1.000 - 3.000 con/ngày ( hoặc 1 viên/1kg thức ăn), trộn vào thức ăn liên tục trong 3-4 ngày. Khi nòng nọc, ếch giống và ếch thịt bị bệnh phải giảm lượng thức ăn xuống còn 50% lượng thức ăn hàng ngày.

- Bệnh lở loét đỏ chân (đốm đỏ đùi)
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila phát triển khi môi trường nuôi dơ và khi ếch bị shock.
Triệu chứng bệnh: Ếch giảm ăn, di chuyển chậm, có những nốt đỏ trên thân, chân bị sưng và dấu hiệu rõ nhất là gốc đùi có tụ huyết. Giải phẩu nội tạng, thấy xuất huyết trong ổ bụng.
Trị bệnh: khi bệnh mới phát sẽ có tác dụng tốt. Dùng kháng sinh 5 - 7 ngày. Norfloxaxine 5g/kg thức ăn, hoặc Oxytetracycline 3 - 5g/kg thức ăn. Ngâm ếch trong dung dịch Iodine 5 - 10 ml/1m3 nước hay dùng thuốc Sunfat đồng phun xuống với liều lượng 1,5g/m3.
Phòng bệnh: Giữ nước sạch và thường xuyên thay nước. Khi phát hiện ếch bị bệnh phải tách những con bệnh ra khỏi đàn để tránh lây lan.

- Bệnh trùng bánh xe
Ký sinh ở da nòng nọc, khi trời nóng, gió đông thường xảy ra bệnh này. Khi có trùng ký sinh, da ếch tiết ra nhiều dịch nhờn, tạo nên những điểm màu trắng bạc.
Dùng sunfat đồng liều lượng 0,5 - 0,7g/m3 nước phun toàn ao, hoặc tắm cho ếch với liều lượng 1-2g/m3 trong vòng 10 - 15 phút hay tắm trong nước muối 2 - 3% trong vòng 10 - 15 phút.

- Bệnh mù mắt, cổ quẹo
Triệu chứng: Mắt bị viêm sưng. Mắt đục và mù cả hai mắt. Biến dạng cột sống và cổ quẹo. ếch thường xuyên quay cuồng và chết. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng có tài liệu cho là do vi khuẩn Pseudomonas sp.
Trị bệnh: Loại bỏ những con có triệu chứng bệnh. Khử trùng bể bằng Iodine liều lượng 5 - 10ml m3 nước bể.

- Bệnh do nấm
Tác nhân gây bệnh: Do nấm Achya sp gây ra.
Triệu chứng: Toàn thân ếch , cũng có khi chỉ ở những chỗ khe có những búi nấm trắng, mắt thường có thể nhìn thấy.
Phòng bệnh: Trong quá trình nuôi luôn kiểm soát môi trường thật tốt, định kỳ khử trùng bằng vôi bột.
Trị bệnh: Dùng formalin với nồng độ 20 - 25 ml/m 3 tắm cho ếch.

- Bệnh giun, sán
Nguyên nhân: Ếch thường bị bệnh sán lá, sán sơ mít và giun ký sinh.
Hiện tượng: Ếch chậm lớn.
Trị bệnh: Trộn các loại thuốc tẩy giun sán lẫn với thức ăn hoặc có thể dùng peperracin với tỷ lệ 0,1% so với thức ăn. Phải tẩy vài lần mới hết được giun sán./.



Tổng cục thủy sản - 7 cựu cán bộ thủy sản nhận án tù

Sau thời gian điều tra, vừa qua, TAND TP Hà Nội đã đưa ra xét xử và tuyên án đối với 7 cựu cán bộ thuộc Tổng cục Thủy sản về hành vi làm giả giấy phép, trục lợi doanh nghiệp.
Nhóm cựu cán bộ thuỷ sản tại phiên xử. (Ảnh: Báo CAND) 
Vụ án được đưa ra xét xử vào ngày 12/4. Tại phiên tòa, dù một số bị cáo không thừa nhận hành vi, nhưng tòa đủ cơ sở để xác định tội danh của các bị cáo, do vậy, ngày 16/4, TAND TP Hà Nội đã chính thức tuyên án. Cụ thể, tuyên phạt ông Bùi Đức Quý (cựu Giám đốc Trung tâm Khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định nuôi trồng thủy sản - Trung tâm 3K), người đóng vai trò chính 6 năm tù về tội Giả mạo trong công tác. Cùng đó, bà Đỗ Thị Hà, cán bộ Phòng Khảo nghiệm Trung tâm 3K 4 năm tù; bà Nguyễn Thị Hà, Vũ Thị Thu và ông Lê Tuấn Anh, mỗi bị cáo 3 năm tù cùng tội danh trên. Hai cựu cán bộ khác của Trung tâm 3K là Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Huy Bàn bị phạt lần lượt là 3 năm và 30 tháng tù nhưng được hưởng án treo.
Trước đó, mặc dù từ tháng 10/2013 đến tháng 7/2014, Bộ NN&PTNT đã tạm dừng việc xem xét hồ sơ công nhận các sản phẩm là vật tư trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, trong đó có nuôi trồng thủy sản để rà soát tổng thể các quy định pháp luật liên quan, tuy nhiên, khi các doanh nghiệp gửi hồ sơ đến Tổng cục Thủy sản để đăng ký lưu hành sản phẩm thì ông Quý và các nhân viên đã cố tình làm giả mạo văn bản của Tổng cục Thủy sản để trục lợi. Tổng số đã có 946 sản phẩm thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý cải tạo môi trường nuôi thủy sản của hơn 100 doanh nghiệp được đưa vào danh sách được phép lưu hành, với số tiền hơn 7,3 tỷ đồng; trong đó, riêng ông Quý nhận 910 triệu đồng.
Hành vi này của các bị cáo đã gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc kiểm soát lưu hành sản phẩm thủy sản và gây thiệt hại về kinh tế cho người nuôi trồng thủy sản.
Linh Anh